Các biện pháp phòng trừ sâu bệnh giai đoạn lúa bén rễ hồi xanh - đẻ nhánh.
Trong những ngày qua, nhân dân toàn xã đã tập trung cao cho công tác cấy lúa Mùa, đến nay cơ bản hoàn thành gieo cấy lúa vụ Mùa năm 2026. Qua kiểm tra đồng của cán bộ khuyến nông các diện tích lúa đang bén rễ hồi xanh bước sang giai đoạn đẻ nhánh. Để tạo điều kiện cho lúa đẻ nhánh sớm, tập trung giảm sự phát sinh của sâu bệnh hại. Trung tâm dịch vụ sự nghiệp công xã Nguyên Giáp hướng dẫn nhân dân thực hiện tốt một số nội dụng sau:
I.Biện pháp chăm sóc và điều tiết nước
1.1. Điều tiết nước
- Đối với lúa cấy: Giữ mực nước trong ruộng từ 2 - 3 cm để thuận lợi cho lúa đẻ nhánh, không được để ruộng bị khô hạn hoặc ngập sâu quá ngọn.
- Đối với lúa sạ: Giữ ruộng đủ ẩm, sau khi cây lúa có từ 2-3 lá thì đưa nước láng mặt ruộng.
1.2. Tỉa dặm: Các hộ nông dân tăng cường kiểm tra đồng ruộng, tỉa dặm để đảm bảo mật độ khóm/m2. Thu gom bảo quản tốt mạ dự phòng sau cấy đề phòng cấy xong mưa bị úng lụt, ốc bươu vàng ăn.
1.3. Bón thúc cho lúa
- Bón thúc sớm và bón tập trung ngay sau cấy 5-7 ngày khi cây lúa vừa bén rễ hồi xanh. Tăng cường bón Kali (nhất là đối với lúa lai và giống lúa BC15, TBR225), không được bón đạm muộn, bón lai thai, kết thúc bón thúc chậm nhất đến ngày 30/7/2026.
- Diện tích lúa bón bằng phân đơn lượng bón cụ thể cho 1 sào lúa như sau: 3 - 4 kg Ure + 2 - 3 kg Kali. Diện tích bón bằng phân tổng hợp NPK, chọn loại phân bón phù hợp theo hướng dẫn trên bao bì.
- Những diện tích chưa được bón lót cần bổ sung lượng phân đạm, lân, kali để bón thúc. Đối với diện tích lúa gieo sạ khi cây lúa đạt 2,5 - 3 lá tiến hành bón 2 kg đạm Ure/sào. Khi cây lúa đạt 4-5 lá, tiến hành tỉa để đảm bảo mật độ và bón tiếp 3-4 kg Ure + 2 - 3 kg Kali/1 sào.
* Lưu ý: Trong những ngày tới dự báo sẽ có mưa lớn đề nghị nhân dân căn cứ thời tiết để chăm bón và điều tiết nước hợp lý.

II. Phòng trừ sinh vật hại đầu vụ
2.1. Ốc bươu vàng
Cắn phá mạnh ở giai đoạn lúa mới cấy/gieo sạ. Cần đặt lưới chắn ốc ở cửa nước vào ruộng; thu gom và trứng ốc bằng tay vào sáng sớm hoặc chiều mát. Nếu mật độ trên 3 con/m2 thì tiến hành rải thuốc trừ ốc sinh học hoặc hoá học khi mực nước trên ruộng khoảng 3cm.
2.2. Cỏ dại
Sử dụng các loại thuốc trừ cỏ tiền nảy mầm (sau sạ 1- 4 ngày) hoặc hậu nảy mầm sớm (sau cấy/ gieo sạ 7-10 ngày). Khi phun, rắc thuốc cỏ, ruộng phải có nước đủ ẩm theo hướng dẫn của từng loại thuốc.
2.3. Bọ trĩ
Thường gây hại nặng khi gặp thời tiết nắng hạn đầu vụ, làm cho lá lúa khô tóp đầu lá, làm chậm khả năng ra lá mới. Cần đưa nước vào ruộng để làm mát và kích thích lúa phát triển. Chỉ phun trừ bằng các loại thuốc đặc trị khi mật độ bọ trĩ quá cao và cây lúa có biểu hiện bệnh rõ rệt.
2.3. Bệnh ngẹt rễ (ngộ độc hữu cơ)
- Nguyên nhân: Do rơm rạ vụ Xuân chưa kịp phân huỷ hoàn toàn, sinh ra khí độc gây thối rễ.
- Dấu hiệu: Lúa không đẻ nhánh, lá lúa vàng, rễ có màu đen hoặc nâu sẫm, không có rễ trắng mới.
- Biện pháp: Tháo cạn nước trong ruộng, phơi mặt ruộng nứt nẻ chân chim để giả độc đất, bón bổ sung vôi bột hoặc Lân supe, phun các chế phẩm kích rễ, phân bón lá vi lượng. Tuyệt đối không bón thêm phân đạm khi cây lúa đang bị nghẹt rễ.
2.4. Bệnh lùn sọc đen
- Nguyên nhân: Do Vi rút gây ra; rầy lưng trắng trên lúa (môi giới truyền bệnh lùn sọc đen).
- Dấu hiệu: Cây lúa xanh đậm, thấp lùn, xoắn lá, xoắn đầu lá...
- Biện pháp: Phải tiêu hủy ngay (nhổ bỏ, vùi sâu) để hạn chế nguồn bệnh trên đồng ruộng và phun trừ rầy bằng thuốc hóa học, không để lây lan ra diện rộng.
Trên đây là hướng dẫn kỹ thuật chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh cho lúa Mùa năm 2026.
Nguyễn Hương